Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013
Hiểm họa luôn rình rập trên muôn nẻo đường quê.
Vào những ngày này, trên mỗi nẻo đường quê Hiệp Hòa lại nô nức bước vào mùa gặt. Và đó cũng là lúc để cho bao hiểm họa khó lường có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho những người tham gia giao thông trên những tuyến đường này. Không phân biệt đó là quốc lộ hay tỉnh lộ, huyện lộ, xã lộ...Không kể đường nhựa hay đường bê tông, đường cấp phối...cứ có đường là phơi rơm phơi rạ...Rơm rạ thì không rơi được xuống hố ga, ổ gà. Nhưng bánh xe và người lái xe thì rơi xuống được. Và ngày nay, đâu đâu cũng có máy gặt đập liên hoàn. Lúa chỉ việc chuyển lên vệ đường ...là đường biến thành sân, thành ruộng. Từ cỗ máy, rơm bắn ra tung tóe...và đủ sức làm cho ai đi qua không đội mũ bảo hiểm có một phen hú vía, giật mình. Đằng kia, khi công việc xong xuôi, thóc đã đóng vào bao, còn rơm thì đốt. Khói bay mù mịt..." khói bay lên tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: thằng nào đốt rơm"! Chắc đó chỉ là vui, còn thực tế nhãn tiền trong bức ảnh dưới đây là: đố ai biết được phía bên kia đám khói có xe cộ, trâu bò, hầm hố gì không? Ở đó, hiểm họa khôn lường !
Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013
Gặp mặt cựu học sinh Trường PTTH Hiệp Hòa 2 tại Thị trấn Thắng.
Tiến tới kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường PTTH Hiệp Hòa 2 ( 1973-2013), theo kế hoạch, vào hồi 17h chiều nay, ngày 26-9-2013, tại hội trường Phòng giáo dục và đào tạo huyện Hiệp Hòa đã diễn ra buổi gặp mặt giữa BGH Trường PTTH Hiệp Hòa 2 với đại diện các Hội cựu học sinh của trường.Thay mặt cho các thế hệ cựu học sinh của trường, anh Trần Văn Thanh, hội trưởng Hội học sinh khóa 1 đã nêu rõ lý do và giới thiệu các đại biểu tham dự cuộc gặp mặt. Tiếp theo chương trình, thầy Đồng Duy Hiển, hiệu trưởng trường PTTH Hiệp Hòa 2 đã phát biểu ý kiến. Thầy Hiển đã đề nghị các anh các chị cựu học sinh của trường thông báo tới các bạn của mình ở Bắc Giang, Hà Nội về gặp mặt theo kế hoạch đã định.Thầy cũng nhấn mạnh mong muốn của nhà trường là có được sự ủng hộ nhiệt tình của các thế hệ cựu học sinh trong việc sưu tầm các tư liệu, hiện vật để xây dựng phòng truyền thống nhà trường. Đồng thời, thông qua cuộc gặp gỡ này, thầy hiệu trưởng đã nhờ đại diện của các hội cựu học sinh chuyển lời mời của BGH nhà trường tới toàn thể các thầy giáo cô giáo cùng toàn thể các cựu học sinh nhà trường về dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường vào các ngày 16-17 tháng 11 sắp tới.Trong phần thảo luận, các anh Trần Cương, đại diện khóa 2, Đồng Văn Liệp, đại diện khóa 3 đã phát biểu ý nguyện chung của các khóa, các lớp là muốn được góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nhà trường bằng những hành động thiết thực. Cuối chương trình , các đại biểu đã chụp ảnh kỷ niệm và cùng tham dự buổi liên hoan gặp mặt do anh Phạm Văn Nghị, một cựu học sinh của trường tổ chức.
Dưới đây là một số hình ảnh
Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013
Chuyện của những người Thầy đầu tiên xây dựng Trường PTTH Hiệp Hòa 2
Năm học 2013- 2014 đã thực sự bắt đầu. Đối với thầy và trò trường PTTH Hiệp Hòa 2 thì đây là một năm học với nhiều dấu mốc cực kỳ quan trọng. Năm học được đón nhận Huân chương Lao động, năm học kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường. Và khoảng thời gian 40 năm đã qua là một chặng đường dài với biết bao biến cố đổi thay, đã có nhiều chuyện chẳng ai còn nhớ nữa....Nhưng với những thầy giáo, cô giáo là lớp người đầu tiên tạo dựng ngôi trường này lại có những kỷ niệm không thể nào quên. Và tôi, chỉ là một học trò thuộc lớp đầu tiên ấy, xin được chắp bút để ghi lại những câu chuyện về cái thuở ban đầu xa xôi đó.
Chân dung thầy giáo Nguyễn Đình Thụy
Đó là mùa hè năm 1972- cái mùa hè đã đi vào lịch sử dân tộc với cái tên rất gợi: mùa hè đỏ lửa. Đế quốc Mỹ thua đau ở chiến trường, toan tính dùng đến con bài chiến lược B52. Bởi thế, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc gay go hơn bao giờ hết. Trước tình hình đó, trường cấp 3 Hiệp Hòa đã thực hiện sơ tán triệt để. Một bộ phận lớn của trường về đóng ở đồi Thường ( nay là khu vực Chợ Thường- xã Thường Thắng) gọi là khu A . Và có hai lớp 9 được tách ra về đóng tại xóm Nội Quan, thôn Nội Xuân ( Mai Trung- Hiệp Hòa) gọi là khu B, do thầy giáo Hoàng Cường phụ trách. Hôm đầu tiên chuyển về , nhà trường cử 2 thầy giáo là thầy Nguyễn Đình Thụy- giáo viên dạy Vật lý, quê ở Ngọ Xá ( Châu Minh) và thầy Đặng Văn Hinh, dạy Trung Văn, quê Đoan Bái cùng anh Lý và mấy anh bạn học cùng lớp tôi ở lại để trông 2 lớp học vừa được dỡ từ trên Thắng chuyển về . Thầy Thụy bảo hồi đó có lẽ nhà trường mới chỉ làm việc đến cấp thôn, cấp xã, nên xóm Nội Quan chưa nắm được thông tin. Bởi thế, khoảng 7-8 giờ tối hôm ấy, ông Nghĩa, lúc bấy giờ là đội trưởng đội sản xuất Nội Quan đến hỏi :" các anh từ đâu đến đây? Có giấy tờ gì không?". Các thầy đã trả lời nhưng ông ấy không tin và bắt lập biên bản tại chỗ. Hồi đó đâu có điện thoại như bây giờ...không còn cách nào khác là các thầy phải ký vào biên bản Sáng hôm sau, ông Sáu đại diện Ban chủ nhiệm HTX Nội Xuân đến làm việc thì sự việc mới được rõ ràng.
Rồi ngay những ngày sau đó các thầy giáo, cô giáo, cùng phụ huynh, học sinh bắt tay vào việc xây dựng trường lớp. Bộ phận dựng nhà cứ dựng, bộ phận đi xin tre làm vách cứ xin, bộ phận đào hầm trú ẩn cứ đào... và bộ phận tuyển sinh cứ tuyển.Tất bật, khẩn trương, rộn ràng khắp xóm nhỏ. Thầy Hinh bảo thời đó không hiểu sao khỏe thế. Sáng hầu như không ăn gì, đạp xe từ Đoan Bái sang trường chỉ huy và trực tiếp lao động...Trưa ăn nhoáng nhoàng tại chỗ, chiều lại làm, tối lại về. Cứ thế hàng tháng trời không mỏi. Còn thầy Thụy lại nhớ mãi những câu chuyện về cuộc sống bên lề trong những ngày gian khổ đó như là những kỷ niệm chẳng thể nào quên. Thầy bảo, ngày ấy thầy mới cưới vợ. Vợ thầy là cô giáo Khổng Minh Đãng quê tận Lập Thạch- Phú Thọ, mới về Hiệp Hòa công tác. Thầy cô cùng được chuyển về khu B và ở đó đến năm sau thì mua đất nhà của ông Thạch ngay gần Kè Thường để ở. Thầy vẫn nhớ những buổi chiều, sau khi xong xuôi công việc lại ra sông máng để kéo vó tôm. Thầy bảo hồi đó bữa ăn nhà giáo mà có thêm ít tôm, ít tép mà ăn là quý lắm rồi. Phần thịt ( mỗi tháng 3-4 lạng) trong tiêu chuẩn được mua bằng tem phiếu phải để dành đến những ngày giỗ,Tết mới dùng...Gian khổ, thiếu thốn là thế nhưng mà thầy cô và tất cả các thầy, cô giáo trong trường ai cũng vui và làm việc hết mình. Tất cả đã đoàn kết bên nhau cùng xây trường mới.
Bởi thế cho nên, chỉ sau vài tháng, bốn năm căn lớp học tranh tre nứa lá đã hoàn thành. Mấy gian nhà tập thể cho các thầy cô giáo trẻ ở xa cũng đã được dựng xong. Thiếu chỗ ở thì thầy cô vào trọ ở nhà dân. Mọi công việc chuẩn bị cho một năm học mới đã được gấp rút hoàn thành. Và đầu tháng 9 năm 1972, tiếng trống trường ở Nội Quan đã điểm. Thế là một năm học mới bắt đầu. Đó là năm học chuyển tiếp, với 2 lớp 9, 4 lớp 8 mới tuyển, trường vẫn chỉ mang tên là khu B của trường Cấp 3 Hiệp Hòa thời ấy do thầy Ngô Xuân Nguyên làm hiệu trưởng. Để rồi đúng một năm sau, năm học 1973-1974, khi chúng tôi lên lớp 10, trường chính thức nhận quyết định, trở thành Trường Cấp 3 Hiệp Hòa số 2. Thầy giáo Tạ Đình Trạc, quê ở Trung Hòa- Mai Trung trở thành người hiệu trưởng đầu tiên của ngôi trường ấy.
Thấm thoắt mà đã bốn mươi năm. Những thầy giáo cô giáo trẻ của trường thời ấy như thầy Thụy, cô Đãng, cô Lan, thầy Pháp, cô Chung, cô Dung thầy Tâm, thầy Bách....đều đã hơn kém 70 xuân. Các thầy các cô, tất cả đều đã nghỉ hưu...nhưng mỗi khi gợi nhắc đến một thời xưa cũ ấy thì hình như ai ai cũng trẻ ra. Các thầy cô bảo rằng đó là những tháng ngày đáng nhớ. Tôi chẳng biết nói sao, chỉ lặng lẽ ghi lại những dòng này và mong chờ ngày Hội trường sắp tới !
Trần Thanh
Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013
Một số hình ảnh về trường THPT HIỆP HÒA 2
Về thăm trường PTTH Hiệp Hòa số 2 vào những ngày này, chúng tôi nhận thấy có nhiều sự đổi thay. Trong ánh nắng thu vàng, trường lớp hiện lên thật khang trang, sạch đẹp. Những hàng cây xanh đã bắt đầu khép tán. Hương hoa sữa nồng nàn vương vấn theo mỗi bước chân đi. Ở nơi này, gặp gương mặt nào ta cũng thấy thật là thân thiện, cũng thật là rạng rỡ tươi vui...Toàn trường đang tưng bừng, phấn khởi trong phong trào thi đua lập thành tích chào mừng, kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Dưới góc máy nào, chúng tôi đều nhận thấy một vẻ đẹp rất riêng của ngôi trường mà mình đã từng học tập từ 40 năm về trước. Xin trân trọng giới thiệu những hình ảnh về trường mà chúng tôi vừa ghi được :
Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013
Chuyện về người Thầy yêu thơ !
Một lần tôi đến thăm người thầy dạy cũ. Nhân khi ôn lại chuyện đời, thầy đọc cho tôi nghe hai câu thơ-mà theo thầy, đó là những nét khái quát nhất về những chặng đường mà thầy đã trải qua:
Tuổi sinh sấm sét động trời
Chiến tranh, gian khổ , cả đời bão giông !
Nhấp ngụm trà nóng và ngẫm nghĩ, tôi thấy đúng. Nhưng có điều, bây giờ, với thầy tôi thì mọi giông bão đã lùi xa. Thầy đang sống hạnh phúc, yên bình bên cô, bên gia đình, con cháu... và trong sự kính yêu, quý trọng của lớp lớp học trò.
Thầy tôi là Tạ Huy Tâm, sinh năm 1936, quê ở làng Trung Hòa ( Mai Trung- Hiệp Hòa- BG) Tốt nghiệp Khoa Hóa- Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1962, thầy về công tác tại trường cấp 3 Văn Quan- Lạng Sơn. Bốn năm sau, thầy lại được điều về giảng dạy ở trường Sư phạm 7+3 Hà Bắc, rồi về trường cấp 3 Hiệp Hòa số 1 rồi số 2... Ba mươi năm gắn bó với sự nghiệp trồng người là ba mươi năm gian khổ khó khăn chồng chất. Đó là những năm tháng chiến tranh, là những năm tháng bão giông của thầy tôi và của bao nhiêu con người Việt Nam khác. Nhưng mặc dù bão giông, thầy vẫn hết lòng tận tụy với học trò. Bởi thế, thầy đã trở thành một hình ảnh đẹp đẽ trong lòng rất nhiều những học trò đã được thầy dạy dỗ. Nhà Thầy Cô, đến bây giờ,mỗi năm thường có hai ngày Tết. Ngày Tết nguyên đán cổ truyền và ngày 20-11. Những ngày đó, học trò tìm về với thầy cô thật đông...Thầy cô bảo: đó là hạnh phúc !
Kể từ khi thầy về hưu ( 1992), ngoài những năm đầu thầy vẫn còn say nghề dạy học, đến bây giờ có tuổi thầy lại say Thơ. Chả biết có duyên nợ gì không, nhưng ngày ngày thầy vẫn tìm đến Thơ để mà giãi bày, tâm sự. Thầy bảo: thơ của thầy là thơ vườn. Mục đích làm thơ chỉ cốt để mua vui, để thư giãn mà thôi...Thầy hay cho tôi đọc thơ của thầy. Thậm chí, có lần hứng chí, thầy đọc liền cho nghe vài ba bài mà thầy mới viết. Nghe giọng thầy đọc, nhìn ánh mắt thầy, tôi hiểu đó không phải là những lời thơ mua vui thông thường...mà đó là những điều gan ruột. Là những lời tâm sự rất đỗi chân thành mà thầy muốn gửi vào thơ. Thơ của thầy nói về nhiều điều trong cuộc sống, nhưng đậm nét nhất, sâu sắc nhất là những vần thơ mộc mạc thầy viết về gia đình và về nghề nghiệp. Trong thơ, thầy dành những lời đẹp nhất để viết về người mẹ yêu kính của mình:
Thủy chung, phúc hậu hiền hòa.
Tấm lòng bồ tát thật là bao dung...
và :
Công, dung, ngôn, hạnh ,đủ điều.
Mẹ là gương sáng cho nhiều cháu con.
Còn với cô- người đã cùng thầy vượt qua bao bão giông của cuộc đời từ bốn mươi năm trước...trong mắt thầy luôn là một hình ảnh đẹp đẽ hiền hòa:
Yêu chồng, kính mẹ thương con.
Thủy chung nhường nhịn sắt son một lòng.
Đến ngày 8-3, thầy tôi chọn tặng cô một món quà độc đáo. Món quà ấy không thể mua bằng tiền. Món quà ấy, thầy biết là cô sẽ thích- thích hơn cả Sâm nhung vàng ngọc. Đó là những lời thơ thật là bình dị...Thơ thật trẻ, chứ không phải là thơ của một ông già đã ngoại 70 xuân:
Sắp đón ngày mồng tám tháng ba.
Thứ chi sắm sửa để làm quà.
Sâm nhung vàng ngọc bà không thích.
Tôi viết vần thơ để tặng bà...
Hạnh phúc và rất đỗi yêu nghề dạy học, thầy cô luôn luôn quan tâm đến mỗi đứa học trò. Đến cả như bây giờ...học trò của thầy cô cũng đã lên ông, lên bà...nhưng hễ gặp thì hỏi han cặn kẽ, tới nhà thì mời nước mời cơm, thầy cô đi xa về lại có quà cho cháu...! Trong bài thơ nói về hạnh phúc của gia đình nhà giáo , Thầy tôi đã viết:
Bây giờ tóc bạc, tuổi già
Vẫn vui như Tết, ông bà bên nhau
Bà rằng: nếu có kiếp sau.
Thì ta vẫn cứ bên nhau làm Thầy.
Tình cảm mà thầy dành cho học trò trong thơ cũng thật là sâu đậm. Nhìn học trò rét mướt, thầy muốn đi gom nắng mùa đông để sưởi ấm cho trò:
Muốn đi nhặt nắng trăm nơi.
Đem về sưởi ấm, xanh chồi vườn ươm.
Đông về rét tím sân trường.
Gom sao đủ nắng mà thương khắp trò.
Còn riêng với thơ, tuy thầy đã viết là:
Tuổi hạc không mong thành thi sĩ.
Mua vui chút đỉnh lúc tuổi già.
Nhưng mà thầy đã tìm đã thấy thật nhiều những bạn thơ để mà vui, để mà cùng chia sẻ. Thơ với thầy bây giờ cùng sóng bước trên đường đời. Thơ làm cho thầy tôi như trẻ lại:
Ai ngờ em gửi tặng thơ.
Để ta mắc nợ bao giờ trả xong ?
Vâng, nợ đời và nợ thơ..đúng như điều mà thầy tôi đã băn khoăn, biết bao giờ trả cho xong được. Đó là duyên nợ. Đó là nghĩa tình...Không phải thứ để vay để trả.
Và thế là đến bây giờ, tôi vẫn được học thầy tôi !
Tôi kính mong Thầy khỏe mãi !
Ký ức ngày khai trường
Chỉ còn mấy tiếng nữa thôi là ngày khai giảng năm học mới sẽ được bắt đầu. Ngồi đếm tiếng mưa rơi trong tĩnh lặng, tôi bỗng dưng nhớ lại những ngày khai trường của tuổi ấu thơ. Ngày ấy giờ đã là ngày xưa. Xa xôi lắm...Đã gần năm chục năm rồi !
( Ảnh minh họa)
Ngày ấy thật đơn sơ nghèo khó. Ngày ấy không có nhiều cờ hoa biểu ngữ. Không có áo quần đồng phục, không có loa đài, không có ghế, không có cả những chiếc khăn quàng đẹp đẽ như bây giờ. Nhưng ngày ấy đối với tôi, và với bao nhiêu bạn bè cùng trang lứa khác, thì ngày khai trường thật là trọng đại. Đó là ngày mà bọn tôi ngóng đợi từ lâu, thậm chí từ rất là lâu. Đến tận bây giờ, có lẽ tôi vẫn không thể nào lý giải được đầy đủ rằng vì sao mình trông đợi. Chỉ biết rằng, ngày đó mình sẽ được mặc quần áo mới- Dẫu rằng đó chỉ là cái quần bằng vải xanh chéo với cái áo cánh vải phin màu xanh hay là màu nâu đất. Và tối hôm trước ngày khai trường, thế nào mình cũng phải thức thật khuya bên ngọn đèn dầu để mà đóng và kẻ vở. Những quyển vở được đóng bằng loại giấy thếp màu đen- còn gọi là giấy giang, một mặt trơn, một mặt sần và không có dòng kẻ. Thế là đóng vở xong bao giờ cũng phải nằm bò ra cái giường tre, lấy thước vuông và bút chì tự kẻ dòng để ngày mai viết chữ cho thẳng hàng. Làm xong rồi, mới mở trang vở ra mà hít hà cái hương thơm rất riêng của nó. Xong rồi thì soạn sách giáo khoa. Đó là những quyển sách cũ mèm, đã được các anh chị dùng từ bao năm trước, ít quyển còn lại đủ bìa. Dọc vỏ bao xi măng ra làm bìa bọc. Sau đó lại hí húi dán nhãn vở lên ...rồi ngắm nghía, rồi vuốt ve mãi mà không chán. Chuẩn bị xong sách vở, tôi mới bắt đầu pha chế mực. Xưa đâu có bút bi tiện lợi như giờ, bút máy vẫn còn là hàng xa xỉ. Chủ yếu bọn tôi đùng bút mực- loại bút vừa viết lại vừa chấm mực, Tên nào không khéo, chấm đẫm quá lại viết chậm...mực đổ xuống vở một đám gần bằng đồng xu.....lúc ấy lại lấy phấn thấm đi, thấm lại vẫn không sao sạch được. Mực gói dạng bột, có nhiều màu : xanh, đen, tím. Tôi thích mực tím hơn...Cứ một gói là pha được hai lọ mực đựng trong vỏ của lọ thuốc Fenixilin...xong xuôi rồi, tôi mới bắt đầu nằm xuống giường và nghĩ. Chả hiểu hồi ấy tôi đã nghĩ những gì. Nhưng hẳn không phải là những chuyện quốc gia đại sự...mà chỉ là những chuyện vẩn vơ ! Vẩn vơ mà sao tôi lại thấy lòng mình xốn xang, hồi hộp lắm...Trằn trọc mãi không yên...Rồi cuối cùng tôi cũng thiếp đi trong những giấc mơ thật đẹp.
Và đến sáng hôm sau, tôi xúng xính trong bộ quần áo mới, đầu đội mũ rơm. vai đeo túi dết- một loại túi may bằng vải- trong đựng sách vở và cả bông băng. thuốc đỏ....đề phòng bị máy bay Mỹ ném bom và rảo bước tới trường. Trường xa khu dân cư, nằm sâu dưới đất...chỉ có mái là nhô lên trên mặt đất. Mỗi lớp học đều có hệ thống giao thông hào chạy ra hầm trú ẩn...Ngày khai trường diễn ra chóng vánh nhưng mà trang nghiêm lắm. Khi thầy phụ trách hô " nghiêm", bọn tôi đứng im, không nhúc nhích, mắt hướng lên lá cờ đỏ sao vàng và hát. Thầy hiệu trưởng nhắc nhở một số điều cần nhớ, xong xuôi thầy cho về lớp để học bài học đầu tiên...Và hình như do giảng dạy từ trong lòng đất hay sao mà lời giảng của thầy cô nghe sao ấm lạ...
Thế đấy, ngày khai trường năm xưa chỉ là như vậy, nhưng sao đến giờ tôi vẫn chẳng thể quên. Ngoài kia, mưa vẫn đang rơi...Và bỗng dưng tôi lại thấy buồn. Một nỗi buồn vô cớ...Phải chăng, buồn là bởi tại ông giời đổ mưa, nên có thể ngày mai bọn trẻ kém vui đi một chút !
Đêm 04-9-2013
TRẦN VĂN THANH
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














